Chuyển tới nội dung
Trang chủ » Nghị định 232/2026/NĐ-CP: Vị trí việc làm và bậc lương của viên chức ngành y tế từ ngày 1/7/2026

Nghị định 232/2026/NĐ-CP: Vị trí việc làm và bậc lương của viên chức ngành y tế từ ngày 1/7/2026

Từ ngày 1/7/2026, việc xác định vị trí việc làm của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện theo Nghị định 232/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ. Quy định mới không chỉ đưa ra danh mục vị trí việc làm mà còn xác định các bậc nghề nghiệp tương ứng, làm căn cứ để bố trí và xếp lương viên chức trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới.

Đối với lĩnh vực y tế, danh mục vị trí việc làm được quy định tương đối cụ thể, bao quát nhiều nhóm chuyên môn từ bác sĩ, dược, điều dưỡng đến dinh dưỡng, tâm lý lâm sàng, kiểm định, kiểm nghiệm và quản lý an toàn thuốc, dược liệu, vắc xin, thực phẩm.

22 vị trí việc làm trong lĩnh vực y tế

Theo Mục VII Phụ lục II ban hành kèm Nghị định 232/2026/NĐ-CP, danh mục vị trí việc làm viên chức chuyên môn, nghiệp vụ ngành y tế được xác định cùng các bậc nghề nghiệp tương ứng.

Cụ thể:

STTVị trí việc làmBậc nghề nghiệp
1Bác sĩBậc 3 đến bậc 5
2Bác sĩ y học dự phòngBậc 3 đến bậc 5
3Y sĩBậc 1 đến bậc 2
4DượcBậc 2 đến bậc 5
5Y tế công cộngBậc 3 đến bậc 5
6Điều dưỡngBậc 2 đến bậc 5
7Hộ sinhBậc 2 đến bậc 5
8Kỹ thuật yBậc 2 đến bậc 4
9Hộ sinh trưởngBậc 3 đến bậc 5
10Điều dưỡng trưởngBậc 3 đến bậc 5
11Kỹ thuật y trưởngBậc 3 đến bậc 5
12Kỹ thuật dược trưởngBậc 3 đến bậc 5
13Dinh dưỡngBậc 2 đến bậc 5
14Khúc xạ nhãn khoaBậc 3 đến bậc 5
15Kỹ thuật thiết bị y tếBậc 2 đến bậc 4
16Dân sốBậc 1 đến bậc 4
17Công tác xã hộiBậc 1 đến bậc 4
18Tâm lý lâm sàngBậc 3 đến bậc 5
19Dinh dưỡng lâm sàngBậc 3 đến bậc 5
20Đánh giá, bảo đảm an toàn thuốc, dược liệu, vắc xin, thực phẩmBậc 2 đến bậc 4
21Kiểm định, kiểm nghiệmBậc 3 đến bậc 5
22Điều tra tài nguyên dược liệu; bảo quản, chế biến dược liệu sau thu hoạchBậc 2 đến bậc 4

Như vậy, danh mục mới được xây dựng theo hướng phân loại công việc dựa trên tính chất chuyên môn và mức độ phức tạp của nhiệm vụ. Một vị trí việc làm có thể được áp dụng nhiều bậc nghề nghiệp khác nhau, thay vì phải hình thành một vị trí mới khi yêu cầu công việc ở cùng lĩnh vực tăng lên.

Bậc nghề nghiệp được hiểu như thế nào?

Nghị định 232/2026/NĐ-CP quy định bậc nghề nghiệp là mức thể hiện khả năng thực hiện nhiệm vụ của viên chức trong cùng một vị trí việc làm.

Việc xác định bậc nghề nghiệp dựa trên nhiều yếu tố như mức độ phức tạp của công việc, yêu cầu đối với kết quả và sản phẩm đầu ra, phạm vi trách nhiệm cũng như mức độ ảnh hưởng về chuyên môn.

Hệ thống này gồm 5 bậc, từ bậc 1 đến bậc 5. Trong đó, bậc 1 là mức thấp nhất và bậc 5 là mức cao nhất.

Đáng chú ý, đơn vị sự nghiệp công lập căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quy mô và mức độ phát triển để quyết định số bậc nghề nghiệp sử dụng cho từng vị trí. Tuy nhiên, số bậc được lựa chọn không được vượt quá phạm vi đã được Chính phủ quy định trong Phụ lục II và Phụ lục III của Nghị định.

Viên chức sẽ được bố trí vào một bậc nghề nghiệp phù hợp với năng lực và yêu cầu nhiệm vụ. Khi thay đổi bậc nghề nghiệp, viên chức không mặc nhiên chuyển sang một vị trí việc làm khác.

Bậc nghề nghiệp được liên hệ với bảng lương hiện hành ra sao?

Một nội dung được nhiều viên chức quan tâm là cách chuyển từ bậc nghề nghiệp sang bảng lương trong giai đoạn hiện nay.

Nghị định 232/2026/NĐ-CP quy định rằng trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới theo quyết định của cấp có thẩm quyền, viên chức được tuyển dụng hoặc tiếp nhận theo quy định của Luật Viên chức tiếp tục áp dụng Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP.

Việc quy đổi được thực hiện theo 5 mức:

  • Bậc nghề nghiệp 1: áp dụng lương viên chức loại B.
  • Bậc nghề nghiệp 2: áp dụng lương viên chức loại A0.
  • Bậc nghề nghiệp 3: áp dụng lương viên chức loại A1.
  • Bậc nghề nghiệp 4: áp dụng lương viên chức loại A2, nhóm A2.1.
  • Bậc nghề nghiệp 5: áp dụng lương viên chức loại A3, nhóm A3.1.

Do đó, cần phân biệt giữa bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm và hệ số/bảng lương hiện hành. Nghị định 232 không đồng nghĩa với việc toàn bộ viên chức được chuyển ngay sang một hệ thống tiền lương mới; quy định hiện hành vẫn được sử dụng trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới.

Vị trí việc làm được xác định theo nguyên tắc nào?

Nghị định mới yêu cầu việc xác định vị trí việc làm phải xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời phải phù hợp với danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành.

Một vị trí việc làm được hình thành trên cơ sở nhóm nhiệm vụ có tính chất và nội dung công việc cơ bản giống hoặc tương đồng nhau.

Các đơn vị có thể cụ thể hóa công việc theo lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành, phạm vi công tác hoặc nhóm đối tượng phục vụ. Tuy nhiên, việc cụ thể hóa phải được thể hiện trong bản mô tả công việc và khung năng lực, không được tự ý đổi tên vị trí hoặc tạo thêm một vị trí việc làm mới ngoài danh mục.

Đối với những công việc ngày càng mở rộng về phạm vi hoặc có độ phức tạp cao hơn, sự phát triển này được thể hiện thông qua các bậc nghề nghiệp. Không được lấy lý do công việc phát triển để hình thành thêm một vị trí việc làm mới.

Đối với vị trí quản lý

Nghị định cũng đưa ra nguyên tắc riêng đối với vị trí việc làm quản lý.

Theo đó, một chức danh quản lý tương ứng với một vị trí việc làm. Trường hợp một đơn vị có từ hai người trở lên giữ chức vụ cấp phó của người đứng đầu, việc phân công mỗi người phụ trách một lĩnh vực hoặc nhóm nhiệm vụ khác nhau không làm phát sinh thêm vị trí việc làm và cũng không làm thay đổi tên gọi của vị trí.

Vị trí quản lý đồng thời phải gắn với một vị trí chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí hỗ trợ phù hợp với lĩnh vực mà người quản lý được giao phụ trách.

Đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm gì?

Theo Nghị định 232, đơn vị sự nghiệp công lập không chỉ lựa chọn vị trí việc làm mà còn phải xác định bậc nghề nghiệp được sử dụng đối với từng vị trí.

Bên cạnh đó, đơn vị phải xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực tương ứng.

Bản mô tả công việc phải thể hiện những nội dung cơ bản như:

  • Thông tin chung về vị trí việc làm;
  • Mục tiêu của vị trí;
  • Công việc phải thực hiện;
  • Kết quả và sản phẩm đầu ra có thể đo lường;
  • Khung năng lực tương ứng với từng bậc nghề nghiệp;
  • Quan hệ công tác;
  • Phạm vi và quyền hạn;
  • Yêu cầu về trình độ, kinh nghiệm, phẩm chất;
  • Tiêu chuẩn chuyên môn, nghề nghiệp và điều kiện hành nghề nếu pháp luật chuyên ngành có quy định.

Đối với vị trí quản lý, bản mô tả còn phải làm rõ nhiệm vụ quản lý, sản phẩm đầu ra và yêu cầu về năng lực quản lý.

Có giới hạn tỷ lệ viên chức ở từng bậc nghề nghiệp

Nghị định 232 cũng đặt ra tỷ lệ nhất định đối với số lượng viên chức được bố trí ở từng bậc nghề nghiệp.

Nếu một vị trí việc làm có bậc cao nhất là bậc 5, số viên chức ở bậc 5 không được vượt quá 30% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí đó. Bậc liền kề thấp hơn bậc 5 cũng không được vượt quá 40%.

Nếu vị trí có bậc cao nhất là bậc 4, số viên chức ở bậc 4 không được vượt quá 40%.

Trường hợp một vị trí chỉ sử dụng hai bậc nghề nghiệp thì số viên chức ở bậc cao hơn không được vượt quá 50% tổng số biên chế được giao cho vị trí đó.

Những giới hạn này nhằm tạo cơ cấu nhân sự phù hợp giữa các mức độ năng lực, kinh nghiệm và độ phức tạp của công việc.

Viên chức được tuyển dụng nhưng đơn vị chưa có vị trí việc làm mới xử lý thế nào?

Đây là vấn đề đáng chú ý trong giai đoạn chuyển tiếp.

Theo Nghị định 232/2026/NĐ-CP, chậm nhất đến ngày 1/7/2027, các bộ, UBND cấp tỉnh và cơ quan, đơn vị được phân cấp hoặc ủy quyền phải hoàn thành việc phê duyệt vị trí việc làm viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý, thay thế các quyết định về vị trí việc làm đã ban hành trước đó.

Trong thời gian cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành quyết định mới, quyết định phê duyệt vị trí việc làm trước đây vẫn tiếp tục được sử dụng cho việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.

Đối với viên chức được tuyển dụng trước ngày 1/7/2026, các cơ quan, đơn vị phải bố trí vào vị trí việc làm theo danh mục mới được phê duyệt.

Riêng viên chức được tuyển dụng từ ngày 1/7/2026 trở đi, nếu đơn vị sự nghiệp công lập chưa được phê duyệt vị trí việc làm theo Nghị định 232 thì chậm nhất đến ngày 1/7/2027 phải hoàn tất việc phê duyệt và bố trí viên chức vào vị trí việc làm tương ứng.

Nghị định 232/2026/NĐ-CP có ý nghĩa gì đối với viên chức ngành y tế?

Việc ban hành danh mục vị trí việc làm mới tạo ra một khung thống nhất để các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế tổ chức nhân sự.

Thay vì chỉ nhìn vào chức danh nghề nghiệp, việc bố trí viên chức được gắn chặt hơn với vị trí thực tế, nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra, năng lực và mức độ phức tạp của công việc.

Đối với ngành y tế, danh mục 22 vị trí được quy định tại Phụ lục II bao quát từ hoạt động khám chữa bệnh, dược, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, dinh dưỡng đến y tế công cộng, tâm lý lâm sàng, an toàn thuốc, kiểm định, kiểm nghiệm và quản lý dược liệu.

Một điểm quan trọng khác là các bậc nghề nghiệp từ 1 đến 5 tạo cơ sở để phân hóa mức độ năng lực trong cùng một vị trí. Khi viên chức phát triển về năng lực và đảm nhận công việc có yêu cầu cao hơn, sự thay đổi có thể được phản ánh bằng bậc nghề nghiệp mà không nhất thiết phải tạo ra một vị trí việc làm mới.

Nghị định 232/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Trong thời gian chưa áp dụng chế độ tiền lương mới, việc xếp lương vẫn thực hiện theo hệ thống bảng lương hiện hành được quy định tại Nghị định 204/2004/NĐ-CP, tương ứng với bậc nghề nghiệp mà viên chức được bố trí.

Vì vậy, đối với viên chức ngành y tế, cần theo dõi đồng thời hai nội dung: vị trí việc làm và bậc nghề nghiệp được đơn vị phê duyệt, cũng như cách xếp lương theo quy định tiền lương đang có hiệu lực. Hai nội dung này có mối liên hệ nhưng không nên hiểu là một khái niệm hoàn toàn giống nhau.